Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Sinh mổ, trẻ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
- Cuộc sống hiện đại, sinh nở bằng phương pháp mổ ngày càng trở nên phổ biến và cùng với đó tỷ lệ trẻ em bị tiểu đường cũng tăng theo.
Các nhà khoa học tại Newfoundland và Labrador (Canada) tìm hiểu các trường hợp mắc bệnh tiểu đường loại 1 từ năm 1987. Kết quả cho thấy, trẻ sinh mổ có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường loại 1 so với trẻ sinh bình thường.
Theo các nhà khoa học thì chính điều kiện vô khuẩn khi sinh mổ đã làm ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột và cả hệ miễn dịch ở trẻ sơ sinh. Bởi thông thường trong quá trình chuyển dạ, trẻ được tiếp xúc đầu tiên với vi khuẩn âm đạo, vi khuẩn trong phân mẹ từ đó hình thành ngay nền móng vững chắc cho các vi khuẩn có lợi khu trú tự nhiên ở đường ruột.
Đối với trường hợp vô khuẩn như sinh mổ thì để có được các loại vi khuẩn có lợi cho đường ruột như Bifidobacteria, Probiotic khu trú tại ruột, trẻ sinh mổ cần rất nhiều thời gian mới tạo lập được. Theo ước tính của các nhà khoa học nhi khoa Thuỵ Điển thì phải mất đến 6 tháng sau hệ vi sinh đường ruột ở trẻ sinh mổ mới đuổi kịp trẻ sinh thường vừa lọt lòng.
Việc được tiếp xúc với các vi khuẩn trong đường âm đạo và trong ruột còn tạo ra một kinh nghiệm đầu đời cho hệ miễn dịch, giúp bé sơ sinh có thể nhận ra và đấu tranh lại với những tác nhân gây bệnh. Trẻ sinh mổ không có cơ hội này nên cơ thể chúng khó tìm được sự thích ứng khi sống ở môi trường có nhiều vi khuẩn. Và Probiotic là vi khuẩn có khả năng chống nhiễm trùng, tăng cường hệ miễn dịch nên nó còn chính là hàng rào ngăn ngừa bệnh tật và lây nhiễm.
Trong cuộc sống hiện đại, những đứa trẻ là con của các bà mẹ lớn tuổi hoặc bà mẹ chọn phương pháp sinh mổ sẽ có nguy cơ bị bệnh tiểu đường lớn hơn.
Ngoài ra, một số yếu tố môi trường khác cũng làm xu hướng mắc tiểu đường tuýp 1 tăng như trẻ quá được giữ gìn, ít được “cọ sát” với các siêu vi. “Tiểu đường tuýp 1 có liên quan rất chặt chẽ với sự phát triển của hệ miễn dịch, khi hệ miễn dịch quá “nhạy”, cơ thể sẽ tự ngừng sản xuất insulin như một cách phòng vệ.
Theo các chuyên gia y tế, sự gia tăng nguy cơ ở trẻ là đáng báo động, nếu chúng ta không thể tác động tới gen thì cần phải tác động tới môi trường để làm giảm tỉ lệ này. Một trong những tác động đó là hạn chế sinh mổ, không để trẻ quá tăng cân quá nhanh hay không tăng cân trong một thời gian dài...
Diệu Linh - (theo Health)
Thái Thành Tài @ 09:10 15/09/2013
Số lượt xem: 2815
- Uống café khi mang thai (15/09/13)
- Chọn sữa cho bà bầu (15/09/13)
- Những thực phẩm dễ gây sẩy thai (15/09/13)
- Siêu âm thai (15/09/13)
- 7 điều "nằm lòng" khi nuôi con bằng sữa mẹ (15/09/13)
Thêm tác hại mới của sinh mổ
Trẻ sinh mổ ngoài việc dễ mắc các bệnh hô hấp thì hệ tiêu hóa và miễn dịch cũng có nhiều hậu quả không như mong đợi.
Cứ 100 trẻ em Brazil chào đời thì có tới 80 bé là được lấy ra qua thành bụng mẹ. Số trẻ em Mỹ ra đời qua đường phẫu thuật năm 2006 tăng gấp đôi so với 10 năm trước. Còn ở Việt Nam hiện tỷ lệ mổ đẻ tăng gấp 2,5 lần so với tỷ lệ trung bình do Tổ chứcY tế thế giới đưa ra. Những số liệu được đăng tải trên nhiều trang web này phản ánh một thực tế rằng chuyện sinh mổ đang trở nên phổ biến và không chỉ ở một quốc gia riêng lẻ nào.
Ngày nay, khi hỏi thăm sức khỏe của một bà mẹ mới lâm bồn, người ta quen với câu hỏi “sinh mổ hay sinh thường?” giống như chuyện hỏi thăm bệnh viện hay nhà hộ sinh nào đã được họ chọn để đẻ vậy. Và xung quanh chuyện một thủ thuật vốn chỉ được dùng cho cấp cứu trước đây giờ bỗng chuyển thành hiện tượng phổ biến có nhiều nguyên nhân khách quan mang tính thời đại như phụ nữ sinh con ngày càng muộn, các ca mang đa thai do thụ tinh trong ống nghiệm tăng, hay số thai phụ mắc bệnh béo phì ngày càng nhiều; thì bên cạnh đó cũng có nhiều lý do khiến các thai phụ xin được mổ đẻ hết sức… lãng xẹt như sợ đau, sợ xấu hay chọn giờ vàng để sinh con.
Và trong khi các bà mẹ muốn mỗi lần sinh con đều diễn ra êm ả như dự tính thì các bác sĩ cũng đưa ra chỉ định sinh mổ nhanh chóng hơn, phần vì sớm nhận ra các dấu hiệu không tốt ở thai nhi nhưng cũng phần vì một bộ phận bác sĩ có tâm lý ngại theo dõi sản phụ trong thời gian dài chuyển dạ, sợ phải chịu trách nhiệm nếu trong khi sản phụ chuyển dạ có điều không may xảy ra để lại hậu quả xấu.
Theo các nhà khoa học thì chính điều kiện vô khuẩn khi sinh mổ đã làm ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột và cả hệ miễn dịch ở trẻ sơ sinh. Bởi thông thường trong quá trình chuyển dạ, trẻ được tiếp xúc đầu tiên với vi khuẩn âm đạo, vi khuẩn trong phân mẹ từ đó hình thành ngay nền móng vững chắc cho các vi khuẩn có lợi khu trú tự nhiên ở đường ruột. Nhưng với môi trường vô khuẩn như sinh mổ thì để có được các loại vi khuẩn có lợi cho đường ruột như Bifidobacteria, Probiotic khu trú tại ruột, trẻ sinh mổ cần rất nhiều thời gian mới tạo lập được. Theo ước tính của các nhà khoa học nhi khoa Thuỵ Điển thì phải mất đến 6 tháng sau hệ vi sinh đường ruột ở trẻ sinh mổ mới đuổi kịp trẻ sinh thường vừa lọt lòng.
Mặt khác, việc được tiếp xúc với các vi khuẩn trong đường âm đạo và trong ruột còn tạo ra một kinh nghiệm đầu đời cho hệ miễn dịch, giúp bé sơ sinh có thể nhận ra và đấu tranh lại với những tác nhân gây bệnh. Trẻ sinh mổ không có cơ hội này nên cơ thể chúng khó tìm được sự thích ứng khi sống ở môi trường có nhiều vi khuẩn. Và Probiotic là vi khuẩn có khả năng chống nhiễm trùng, tăng cường hệ miễn dịch nên nó còn chính là hàng rào ngăn ngừa bệnh tật và lây nhiễm. Ngoài ra theo kết quả của một số cuộc nghiên cứu thì trẻ đẻ mổ còn dễ mắc một số bệnh khác như tiểu đường tuýp 1 hay sâu răng.
Vì sức khỏe của bé yêu
Để bé ra đời theo cách tự nhiên như tạo hóa vốn ban tặng là cách tốt nhất để bé có được sự phát triển toàn diện. Nhưng nếu vì một lý do nào đó mà buộc phải sinh mổ thì hãy tìm cách hạn chế tối đa những thiệt thòi cho bé con bằng cách không mổ khi chưa đến ngày sinh, mổ đẻ ở những bệnh viện lớn, bác sĩ có kinh nghiệm phẫu thuật.
Sinh mổ, hiện đại hay hại bé?
Saved under Chăm sóc thai, Đón con yêu
Tags: có nên sinh mổ, Sinh mổ, Sinh mổ có tác hai gì
Ngày nay, chuyện sinh mổ đang trở nên phổ biến và không chỉ ở một quốc gia riêng lẻ nào.
Trào lưu sinh mổ
Cứ 100 trẻ em Brazil chào đời thì có tới 80 bé là được lấy ra qua thành bụng mẹ. Số trẻ em Mỹ ra đời qua đường phẫu thuật năm 2006 tăng gấp đôi so với 10 năm trước. Còn ở Việt Nam hiện tỷ lệ mổ đẻ tăng gấp 2,5 lần so với tỷ lệ trung bình do tổ chức y tế thế giới đưa ra. Những số liệu được đăng tải trên nhiều trang web này phản ánh một thực tế rằng chuyện sinh mổ đang trở nên phổ biến và không chỉ ở một quốc gia riêng lẻ nào.
Ngày nay, khi hỏi thăm sức khỏe của một bà mẹ mới lâm bồn người ta quen với câu hỏi “sinh mổ hay sinh thường?” giống như chuyện hỏi thăm bệnh viện hay nhà hộ sinh nào đã được họ chọn để đẻ vậy. Và xung quanh chuyện một thủ thuật vốn chỉ được dùng cho cấp cứu trước đây giờ bỗng chuyển thành hiện tượng phổ biến có nhiều nguyên nhân khách quan mang tính thời đại như phụ nữ sinh con ngày càng muộn, các ca mang đa thai do thụ tinh trong ống nghiệm tăng, hay số thai phụ mắc bệnh béo phì ngày càng nhiều. Thì bên cạnh đó cũng có nhiều lý do khiến các thai phụ xin được mổ đẻ hết sức… lãng xẹt như sợ đau, sợ xấu hay chọn giờ vàng để sinh con.
Và trong khi các bà mẹ muốn mỗi lần sinh con đều diễn ra êm ả như dự tính thì các bác sĩ cũng đưa ra chỉ định sinh mổ nhanh chóng hơn phần vì sớm nhận ra các dấu hiệu không tốt ở thai nhi nhưng cũng phần vì một bộ phận bác sĩ có tâm lý ngại theo dõi sản phụ trong thời gian dài chuyển dạ, sợ phải chịu trách nhiệm nếu trong khi sản phụ chuyển dạ có điều không may xảy ra để lại hậu quả xấu. Nhưng lý do mà các chuyên gia cho là quan trọng nhất khi tạo nên làn sóng sinh mổ chính là sự thay đổi cách nghĩ về quá trình chuyển dạ và sinh con. Trong một xã hội công nghệ hóa và y tế hóa cao, người ta chú trọng nhiều hơn đến việc đảm bảo cho đứa trẻ ra đời an toàn, suôn sẻ hơn là trông đợi vào sự kỳ diệu của tạo hoá. Nhưng chính sự thay đổi này lại mang lại nhiều điều bất lợi cho sức khỏe đứa trẻ.
Ngày nay, người ta có nhiều lý do để chọn cách sinh mổ. (ảnh minh họa)
Và những hệ luỵ xa gần
Trẻ sinh mổ dễ mắc các chứng bệnh về hô hấp như viêm phổi, phế quản mãn tính, hen suyễn, khò khè do không được tiếp nhận một số loại hormon trong quá trình chuyển dạ là thông tin mà hầu hết mọi người mới chỉ biết về tác hại của sinh mổ. Nhưng thực ra việc đi ngược lại chu trình sinh nở tự nhiên này còn để lại những hậu quả không mong đợi ở cả hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch của trẻ sinh mổ.
Theo các nhà khoa học ở viện dinh dưỡng Nestlé thì chính điều kiện vô khuẩn khi sinh mổ đã làm ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột và cả hệ miễn dịch ở trẻ sơ sinh. Bởi thông thường trong quá trình chuyển dạ, trẻ được tiếp xúc đầu tiên với vi khuẩn âm đạo, vi khuẩn trong phân mẹ từ đó hình thành ngay nền móng vững chắc cho các vi khuẩn có lợi khu trú tự nhiên ở đường ruột. Nhưng với môi trường vô khuẩn như sinh mổ thì để có được các loại vi khuẩn có lợi cho đường ruột như Bifidobacteria, Probiotic khu trú tại ruột, trẻ sinh mổ cần rất nhiều thời gian mới tạo lập được. Theo ước tính của các nhà khoa học nhi khoa Thuỵ Điển thì phải mất đến 6 tháng sau hệ vi sinh đường ruột ở trẻ sinh mổ mới đuổi kịp trẻ sinh thường vừa lọt lòng.
Mặt khác, việc được tiếp xúc với các vi khuẩn trong đường âm đạo và trong ruột còn tạo ra một kinh nghiệm đầu đời cho hệ miễn dịch, giúp bé sơ sinh có thể nhận ra và đấu tranh lại với những tác nhận gây bệnh. Trẻ sinh mổ không có cơ hội này nên cơ thể chúng khó tìm được sự thích ứng khi sống ở môi trường có nhiều vi khuẩn. Và Probiotic còn chính là vi khuẩn có khả năng chống nhiễm trùng, tăng cường hệ miễn dịch nên nó còn chính là hàng rào ngăn ngừa bệnh tật và lây nhiễm. Ngoài ra theo kết quả của một số cuộc nghiên cứu thì trẻ đẻ mổ còn dễ mắc một số bệnh khác như tiểu đường tuýp 1hay sâu răng.
Vì sức khỏe của bé yêu
Hãy để bé ra đời theo cách tự nhiên như tạo hóa vốn ban tặng là cách tốt nhất để bé có được sự phát triển toàn diện. Nhưng nếu vì một lý do nào đó mà buộc phải sinh mổ thì hãy tìm cách hạn chế tối đa những thiệt thòi cho bé con bằng cách không mổ khi chưa đến ngày sinh, mổ đẻ ở những bệnh viện lớn, bác sĩ có kinh nghiệm phẫu thuật. Và để hỗ trợ cho hệ vi sinh đường ruột và hệ miễn dịch của bé phát triển khỏe mạnh, không thua kém xa bé sinh thường thì ngoài việc tăng cường cho bé bú (trong sữa mẹ có chứa nhiều vi khuẩn có lợi và truyền cho con qua đường bú), các bà mẹ có thể bổ sung lượng probiotic vào khẩu phần dinh dưỡng cho trẻ. Probiotic có ở một số loại sữa công thức có bổ sung vi chất này hoặc ở những chế phẩm probiotic dành cho trẻ.
Sinh mổ – những điều cần biết
Saved under Chăm sóc thai, Đón con yêu
Tags: lợi ích của sinh thường, lợi ích của việc sinh mổ, có nên sinh mổ, Sinh mổ
Gần đây xảy ra một số trường hợp tai biến trong khi sinh khiến người mẹ tử vong, gây bức xúc nhiều trong xã hội.
Vì vậy nhiều phụ nữ mang thai muốn được mổ lấy thai để an toàn hơn, điều này tạo áp lực không nhỏ cho sản phụ và cán bộ y tế. Tôi xin có vài thông tin chia sẻ cùng thai phụ và gia đình trước khi có quyết định.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khi so sánh lợi – hại của việc mổ lấy thai với sinh thường, đã tổng kết như sau:
Những điều cần biết về sinh mổ:
Những điều lợi khi mổ lấy thai
Không đau do cắt may tầng sinh môn (nhưng đau vết mổ), không dễ bị són tiểu sau sinh, giảm nguy cơ bị sa sinh dục khi lớn tuổi.
Những điều không khác so với sinh ngã âm đạo
Chảy máu (băng huyết) sau sinh mổ, nhiễm trùng hậu sản, tiểu không tự chủ (vì khi mang thai đã bị ảnh hưởng), đau lưng, tiểu gắt buốt, trầm cảm sau sinh, tử vong sơ sinh (trừ ngôi ngược), xuất huyết nội sọ trẻ sơ sinh, tổn thương đám rối thần kinh cánh tay trẻ sơ sinh, tổn thương não gây bại liệt.
Một ca mổ lấy thai – ảnh: Internet
Những điều có hại khi mổ lấy thai
Đau bụng, tổn thương bàng quang, tổn thương niệu quản, tổn thương ruột, khả năng mổ lại do tai biến khi mổ, cắt tử cung, bệnh huyết khối gia tăng khi nằm lâu sau mổ, thời gian nằm viện lâu hơn, khả năng phải nhập viện lại cao, nhau tiền đạo lần mang thai sau có thể gây chảy máu và cắt tử cung do nhau bám chặt vào vết mổ, vỡ tử cung ở lần mang thai sau, thai lưu trong lần mang thai sau, tử vong mẹ do chảy máu và do thuyên tắc mạch phổi dễ xảy ra khi mổ lấy thai hơn, tử vong trẻ sơ sinh do bệnh lý hô hấp, tai biến khi gây mê do sốc thuốc mê…
Như vậy, theo những thông tin trên thì mổ lấy thai nguy hiểm hơn rất nhiều so với sinh ngã âm đạo. Chính vì thế, gia đình cần được cung cấp đầy đủ thông tin về những bất lợi của mổ lấy thai trước khi quyết định yêu cầu mổ. Nhiều sản phụ chỉ vì sợ đau đẻ mà yêu cầu mổ, gia đình vì phong thủy, vì lo lắng quá mức mà yêu cầu mổ là chưa phù hợp về chuyên môn. BS nên cương quyết không giải quyết mà phải đánh giá và giải thích kỹ tình trạng sức khỏe của người mẹ và thai nhi, đồng thời ra quyết định mổ theo lý do chuyên môn. Chỉ có BS trực thường trú (cao nhất về chuyên môn trong ngày) trưởng – phó khoa sinh, trưởng phó kíp trực mới là người có thẩm quyền ký biên bản hội chẩn quyết định trường hợp nào cần mổ. Thậm chí, có những trường hợp đánh giá cần mổ do cổ tử cung và ngôi thai không tiến triển, nhưng trong quá trình chuẩn bị mổ mà diễn tiến tốt hơn thì chúng tôi vẫn mời gia đình lên giải thích và cho sinh ngã âm đạo.
Rất mong những thông tin trên sẽ góp phần vào việc thay đổi cách nhìn về mổ lấy thai của người không phải trong ngành sản khoa, giúp giảm phần nào áp lực cho chính các sản phụ và áp lực cho ngành sản khi có quá nhiều gia đình chủ động yêu cầu mổ.
ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA ĐẺ MỔ
Xét về mặt tổng thể thì sinh mổ là phương thức khá an toàn, nhưng việc mổ đẻ vẫn là một loại hình phẫu thuật.
>> TƯ VẤN TÂM LÝ - KHÁM BỆNH MIỄN PHÍ TẠI AloBacsi.vn
Xem xét việc mổ đẻ khi sinh một cách khách quan, chúng ta có thể thấy được ưu khuyết điểm của nó.
Ưu điểm của đẻ mổ
- Cứu được tính mạng của người mẹ và thai nhi do các nguyên nhân như: đầu thai không thuận, thai nhi bị bệnh tật có tính chất nguy hiểm như bệnh tim, bệnh thận…
- Mổ đẻ là hình thức giải thoát nguy hiểm cho thai nhi và người mẹ. Đây là phương pháp có hiệu quả để giải quyết việc khó sinh. Mổ đẻ sử dụng thủ thuật phẫu thuật có tính chính xác cao, dùng chất gây mê để tiến hành.
- Nếu đã chọn phương pháp mổ đẻ, trước khi thai phụ bắt đầu co rút tử cung hãy tiến hành mổ đẻ để giúp người mẹ tránh những trận đau đớn khi sinh đẻ.
- Nếu khi mang thai, thai phụ bị các bệnh như u buồng trứng, u xơ… thì việc mổ đẻ sẽ là tốt nhất để vừa lấy thai nhi ra, vừa có thể cắt bỏ khối u và chữa các bệnh.
- Cùng với việc tiến hành mổ khi sinh, có thể phẫu thuật triệt sản, tức là phẫu thuật thắt ống vận chuyển noãn.
- Mổ khi sinh có thể sẽ là phương pháp cấp cứu đối với việc cứu những thai nhi đang trong tình trạng nguy hiểm vì mổ khi sinh có thể lấy thai nhi ra khỏi cơ thể người mẹ rất nhanh.
Nhược điểm của đẻ mổ
Với người mẹ
- Khi mổ đẻ nhất thiết cần phải có thuốc mê, nhưng bản thân thuốc mê lại có hại, hay gây ra các tác dụng phụ, làm tụt huyết áp,…
- Tử cung bị thương: Mổ đẻ dễ làm cho tử cung bị thương, ảnh hưởng đến sự co thắt bình thường của tử cung.
- Mổ đẻ để lại vết thương cả về thể chất lẫn tinh thần của người mẹ.
- Phẫu thuật dễ mất nhiều máu: Thông thường thì âm đạo tiết ra một lượng máu không nhiều, nhưng khi mổ đẻ thì lượng máu mất đi gấp nhiều lần. Do mất lượng máu nhiều, khiến cho hàm lượng máu để co rút tử cung giảm thiểu, ảnh hưởng đến sự hồi phục của tử cung, khiến cho sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh của người mẹ chậm lại.
- Mổ đẻ là nguyên nhân phát sinh nhiều chứng bệnh: Theo báo cáo thì phụ nữ mổ đẻ phát sinh các chứng bệnh âm đạo tăng 4 lần, chiếm 18%. Mất máu gây viêm nhiễm tăng chiếm 35%, mất máu sau sinh chiếm 16%.
- Mổ đẻ để lại nhiều di chứng như: tử cung bị mẩn đỏ dễ dẫn đến dính ruột, viêm bàng quang…
- Dù cuộc phẫu thuật đã hoàn thành thì vẫn có thể phát sinh nhiễm trùng vết mổ ở thành bụng, vết mổ không lành và để lại sẹo.
- Mổ đẻ gây ảnh hưởng đến tuyến sữa: Do phẫu thuật mổ đẻ sẽ dẫn đến tổn thương, tinh thần của sản phụ bị mệt mỏi khiên sự điều tiết để phân chất các tuyến sữa từ não bộ bị hạn chế, ảnh hưởng đến sự phân tiết bình thường của tuyến sữa.
- Sau khi đẻ mổ, người mẹ sinh con lần nữa sẽ gặp rất nhiều vấn đề. Các vết thương tử cung dễ gây hiện tượng vỡ tử cung, gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng người mẹ và cả đứa trẻ. Với sản phụ sinh mổ, muốn sinh trở lại cần chờ ít nhất là ba năm và khoảng cách tốt nhất là 5 năm. Nếu mang thai lần nữa sau khi đẻ mổ mà tiến hành phá thai, dễ phát sinh tình trạng thủng tử cung.
Với thai nhi
- Những trẻ được sinh ra do mổ thiếu đi sức ép cần thiết của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất có thể phát sinh hội chứng trụy hô hấp, xuất huyết nội, viêm phổi. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém hơn so với những trẻ được sinh ra bằng đường âm đạo nên các trẻ này sau khi trưởng thành dễ mắc bệnh…
- Những ca mổ đẻ sớm nếu không phải trong trường hợp khẩn cấp sẽ không có lợi cho trẻ sơ sinh và nếu càng mổ sớm, tỷ lệ nguy hiểm đối với trẻ càng cao. So với các trẻ mổ sinh vào tuần thứ 39 hoặc sau đó, các trẻ mổ sinh vào tuần thứ 37, 38 có nguy cơ cao hơn mắc phải các bệnh về đường hô hấp, do trung khu hô hấp chưa được chuẩn bị, trẻ cũng bị ảnh hưởng về lượng đường trong máu và các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
- Trẻ đẻ mổ nếu non tháng có nhiều biến chứng như: bệnh võng mạc sơ sinh, xẹp phổi... Bệnh võng mạc sơ sinh nếu không được phát hiện kịp thời có thể gây mù ở trẻ.
- Mới đây, một nghiên cứu cũng tìm ra rằng 80% trẻ mổ sinh có nguy cơ cao bị bệnh hen.
- Phần lớn số trẻ mổ sinh đều phải nhận được sự chăm sóc y tế đặc biệt sau khi chào đời.
Như vậy, sinh con bằng đẻ mổ không lí tưởng như nhiều người vẫn nghĩ. Do đó, những thai phụ có thể sinh con thông qua âm đạo, nên cố gắng thực hiện đẻ thường. Chỉ trong trường hợp người mẹ không thể sinh con tự nhiên thì mới lựa chọn thời gian thích hợp để tiến hành phẫu thuật mổ đẻ.
>> TƯ VẤN TÂM LÝ - KHÁM BỆNH MIỄN PHÍ TẠI AloBacsi.vn
AloBacsi.vn (theo Mangthai.vn