Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
bai tập chuơng V

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Văn Phương (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:53' 08-12-2010
Dung lượng: 114.5 KB
Số lượt tải: 57
Nguồn:
Người gửi: Mai Văn Phương (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:53' 08-12-2010
Dung lượng: 114.5 KB
Số lượt tải: 57
Số lượt thích:
0 người
Chương V. DI TRUYỀN HỌC NGƯỜI
A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
* Di truyền y học là ngành khoa học vận dụng những hiểu biết về di truyền học người vào y học, giúp cho việc giải thích, chẩn đoán, phòng ngừa, hạn chế các tật, bệnh di truyền và điều trị trong một số trường hợp bệnh lí. Nghiên cứu di truyền người sử dụng một số phương pháp như: phương pháp phả hệ, phương pháp nghiên cứu các trường hợp đồng sinh, phương pháp tế bào học. Ngày nay, một số phương pháp khác như di truyền quần thể, di truyền phân tử,… được sử dụng rộng rãi, đã tăng mức xác thực của chẩn đoán bệnh lí và lí giải nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của nhiều bệnh di truyền.Từ đó con người đã đề ra các biện pháp phòng tránh cũng như chữa trị các bệnh di truyền này.
* Bệnh di truyền là bệnh của bộ máy di truyền, do sai sót trong cấu tạo của bộ NST, bộ gen, hoặc sai sót trong quá trình hoạt động của gen. Ngày nay, di truyền y học hiện đại cho phép chẩn đoán, điều trị cũng như sản xuất các dược phẩm chữa bệnh theo cơ chế hoàn toàn mới. Di truyền y học tư vấn có nhiệm vụ chẩn đoán, cung cấp thông tin về khả năng mắc các loại bênh di truyền ở đời con của các gia đình đã có bệnh này, cho lời khuyên trong việc kết hôn, sinh đẻ, đề phòng và hạn chế hậu quả xấu. Khi đứa trẻ ra đời, căn cứ vào mẫu ADN có thể đự báo được các bệnh, tật để phòng ngừa.
* Các bệnh di truyền phân tử là những bệnh do đột biến gen gây ra như các bệnh về hemôglôbin, về các yếu tố đông máu, các prôtêin huyết thanh, các hoocmôn,… Cơ chế gây bênh di truyền phân tử là do các đột biến gen làm ảnh hưởng đến prôtêin mà chúng mã hóa như mất hoàn toàn protein, mất chức năng prôtêin hay làm cho prôtêin có chức năng khác thường và dẫn đến bệnh.
– Bệnh thiếu máu tế bào hình liềm (HbS) là bệnh do đột biến gen mã hóa chuỗi Hbβ gây nên. Đây là đột biến thay thế T → A dẫn đến côđon mã hóa axit glutamic (XTX) → côđon mã hóa valin (XAX) trong gen Hbβ làm biến đổi HbA → HbS. Axit amin mới (valin) có tính chất khác nên HbS ở trạng thái khử ôxi kém hòa tan → kết tủa tạo nên hồng cầu có dạng hình lưỡi liềm, thời gian tồn tại ngắn → thiếu máu.
– Bệnh loạn dưỡng cơ Đuxen. Đây là bệnh do đột biến lặn xảy ra trong gen Dystrophin liên kết với X → prôtêin Dystrophin ở bề mặt tế bào cơ không được tổng hợp → cơ thoái hóa → tổn thương chức năng vận động. Bệnh biểu hiện ở 3 - 5 tuổi, nặng dần đến tàn phế. Tử vong nhiều ở tuổi 18 - 20.
– Bệnh Phênin Kêtô niệu. Đây là bệnh do đột biến trong gen mã hóa enzim chuyển hóa phêninalanin → Tirôzin. Phêninalanin không được chuyển hóa nên ứ đọng trong máu, lên não làm đầu độc tế bào thần kinh → bệnh nhân điên dại, mất trí.
* Phương pháp điều trị các bệnh di truyền phân tử:
– Tác động vào kiểu hình nhằm sửa chữa hậu của đột biến gen. Ví dụ, chữa bệnh Phênin Kêtô niệu bằng cách cho ăn kiêng những chất giàu phêninalanin → hạn chế được các rối loạn của bệnh.
– Tác động vào kiểu gen (liệu pháp gen) là phương pháp đưa gen lành vào thay thế cho gen đột biến ở người bệnh.
Quy trình kỹ thuật này gồm các bước:
+ Tách tế bào đột biến ra từ người bệnh.
+ Các bản sao bình thường của gen đột biến được gài vào virut rồi đưa vào các tế bào đột biến ở trên.
+ Chọn các dòng tế bào có gen bình thường lắp đúng thay thế cho gen đột biến rồi đưa trở lại bệnh nhân.
* Các đột biến NST ở người phần lớn gây chết, tạo nên các ca sảy thai ngẫu nhiên. Các bệnh nhân còn sống chỉ là các lệch bội. Việc thừa hay thiếu chỉ 1 NST → gây chết hay các bệnh hiểm nghèo do rối loạn cân bằng cả hệ gen.
– Bệnh Đao (3 NST 21), một bệnh liên quan đến chậm phát triển trí tuệ là phổ biến nhất ở người do lượng gen trên NST 21 tương đối ít → liều gen thừa của 1 NST 21 ít nghiêm trọng hơn → bệnh nhân còn sống được. Bệnh Đao nói riêng và bệnh NST nói chung có hiệu quả tuổi mẹ, tức là những ngwoif mẹ ở tuổi cao mang thai dễ sinh ra những đứa tre mắc bệnh. Sở dĩ như vậy là vì ở lứa tuổi càng cao thì cơ thể không còn điều chỉnh chính xác các quá trình sinh học, trong đó có sự phân bào.
– Bệnh ung thư: Các tế bào ung thư tăng sinh bất chấp các sự kiểm soát bình thường
A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
* Di truyền y học là ngành khoa học vận dụng những hiểu biết về di truyền học người vào y học, giúp cho việc giải thích, chẩn đoán, phòng ngừa, hạn chế các tật, bệnh di truyền và điều trị trong một số trường hợp bệnh lí. Nghiên cứu di truyền người sử dụng một số phương pháp như: phương pháp phả hệ, phương pháp nghiên cứu các trường hợp đồng sinh, phương pháp tế bào học. Ngày nay, một số phương pháp khác như di truyền quần thể, di truyền phân tử,… được sử dụng rộng rãi, đã tăng mức xác thực của chẩn đoán bệnh lí và lí giải nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của nhiều bệnh di truyền.Từ đó con người đã đề ra các biện pháp phòng tránh cũng như chữa trị các bệnh di truyền này.
* Bệnh di truyền là bệnh của bộ máy di truyền, do sai sót trong cấu tạo của bộ NST, bộ gen, hoặc sai sót trong quá trình hoạt động của gen. Ngày nay, di truyền y học hiện đại cho phép chẩn đoán, điều trị cũng như sản xuất các dược phẩm chữa bệnh theo cơ chế hoàn toàn mới. Di truyền y học tư vấn có nhiệm vụ chẩn đoán, cung cấp thông tin về khả năng mắc các loại bênh di truyền ở đời con của các gia đình đã có bệnh này, cho lời khuyên trong việc kết hôn, sinh đẻ, đề phòng và hạn chế hậu quả xấu. Khi đứa trẻ ra đời, căn cứ vào mẫu ADN có thể đự báo được các bệnh, tật để phòng ngừa.
* Các bệnh di truyền phân tử là những bệnh do đột biến gen gây ra như các bệnh về hemôglôbin, về các yếu tố đông máu, các prôtêin huyết thanh, các hoocmôn,… Cơ chế gây bênh di truyền phân tử là do các đột biến gen làm ảnh hưởng đến prôtêin mà chúng mã hóa như mất hoàn toàn protein, mất chức năng prôtêin hay làm cho prôtêin có chức năng khác thường và dẫn đến bệnh.
– Bệnh thiếu máu tế bào hình liềm (HbS) là bệnh do đột biến gen mã hóa chuỗi Hbβ gây nên. Đây là đột biến thay thế T → A dẫn đến côđon mã hóa axit glutamic (XTX) → côđon mã hóa valin (XAX) trong gen Hbβ làm biến đổi HbA → HbS. Axit amin mới (valin) có tính chất khác nên HbS ở trạng thái khử ôxi kém hòa tan → kết tủa tạo nên hồng cầu có dạng hình lưỡi liềm, thời gian tồn tại ngắn → thiếu máu.
– Bệnh loạn dưỡng cơ Đuxen. Đây là bệnh do đột biến lặn xảy ra trong gen Dystrophin liên kết với X → prôtêin Dystrophin ở bề mặt tế bào cơ không được tổng hợp → cơ thoái hóa → tổn thương chức năng vận động. Bệnh biểu hiện ở 3 - 5 tuổi, nặng dần đến tàn phế. Tử vong nhiều ở tuổi 18 - 20.
– Bệnh Phênin Kêtô niệu. Đây là bệnh do đột biến trong gen mã hóa enzim chuyển hóa phêninalanin → Tirôzin. Phêninalanin không được chuyển hóa nên ứ đọng trong máu, lên não làm đầu độc tế bào thần kinh → bệnh nhân điên dại, mất trí.
* Phương pháp điều trị các bệnh di truyền phân tử:
– Tác động vào kiểu hình nhằm sửa chữa hậu của đột biến gen. Ví dụ, chữa bệnh Phênin Kêtô niệu bằng cách cho ăn kiêng những chất giàu phêninalanin → hạn chế được các rối loạn của bệnh.
– Tác động vào kiểu gen (liệu pháp gen) là phương pháp đưa gen lành vào thay thế cho gen đột biến ở người bệnh.
Quy trình kỹ thuật này gồm các bước:
+ Tách tế bào đột biến ra từ người bệnh.
+ Các bản sao bình thường của gen đột biến được gài vào virut rồi đưa vào các tế bào đột biến ở trên.
+ Chọn các dòng tế bào có gen bình thường lắp đúng thay thế cho gen đột biến rồi đưa trở lại bệnh nhân.
* Các đột biến NST ở người phần lớn gây chết, tạo nên các ca sảy thai ngẫu nhiên. Các bệnh nhân còn sống chỉ là các lệch bội. Việc thừa hay thiếu chỉ 1 NST → gây chết hay các bệnh hiểm nghèo do rối loạn cân bằng cả hệ gen.
– Bệnh Đao (3 NST 21), một bệnh liên quan đến chậm phát triển trí tuệ là phổ biến nhất ở người do lượng gen trên NST 21 tương đối ít → liều gen thừa của 1 NST 21 ít nghiêm trọng hơn → bệnh nhân còn sống được. Bệnh Đao nói riêng và bệnh NST nói chung có hiệu quả tuổi mẹ, tức là những ngwoif mẹ ở tuổi cao mang thai dễ sinh ra những đứa tre mắc bệnh. Sở dĩ như vậy là vì ở lứa tuổi càng cao thì cơ thể không còn điều chỉnh chính xác các quá trình sinh học, trong đó có sự phân bào.
– Bệnh ung thư: Các tế bào ung thư tăng sinh bất chấp các sự kiểm soát bình thường
 






Các ý kiến mới nhất